Search
Chủ Nhật 19 Tháng Mười Một 2017
  • :
  • :

Bất cập của pháp luật Tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố của VKS trong vụ án hình sự

Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) hiện hành chưa quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát ( VKS) , của những người tiến hành tố tụng thuộc VKS ở giai đoạn thụ lý, xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Cơ chế để nắm bắt và quản lý thông tin về tội phạm của các cơ quan chức năng vẫn còn khiếm khuyết, dẫn đến nhiều thông tin về tội phạm chưa được phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết, nhất là các thông tin về tội phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Tình trạng “khép kín” từ việc nhận thông tin và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (đến trước khi có quyết định xử lý tố giác, tin báo về tội phạm) vẫn còn xảy ra do chưa có một cơ chế để kiểm sát đầy đủ. Chẳng hạn, các tố giác, tin báo về tội phạm mà Cơ quan điều tra (CQĐT), các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được, nhất là hoạt động trinh sát nghiệp vụ của CQĐT trong nhiều trường hợp vẫn là bí mật đối với cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực này là VKS. Việc CQĐT có phải thông báo thông tin, kết quả hoạt động trinh sát nghiệp vụ cho VKS hay không chưa có một cơ chế ràng buộc, tạo thuận lợi cho VKSND giám sát các hoạt động này. Viện kiểm sát nhân dân không có thẩm quyền trực tiếp xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kể cả trong trường hợp phát hiện CQĐT chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, bỏ lọt tội phạm.

Pháp luật TTHS hiện hành không quy định VKS có quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự, mà chỉ có thẩm qụyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự do CQĐT thụ lý ( Điều 37 BLTTHS). Mặc dù điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTHS có quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự VKS có nhiệm vụ và quyền hạn “khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can…), nhưng tại Điều 104 BLTTHS (quy định về khởi tố vụ án hình sự) lại quy định VKS chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp VKS huỷ bỏ quyết định không khởi tố của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Vì vậy, thực tế có nhiều trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm cần được khởi tố, điều tra, nhưng vì những lý do khác nhau, CQĐT không ra quyết định khởi tố và cũng không ra quyết định không khởi tố vụ án thì VKS không thể ra được quyết định khởi tố vụ án để yêu cầu điều tra, mà chỉ có thể ra văn bản yêu cầu khởi tố vụ án (theo quy định tại Điều 114 BLTTHS thì yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của VKS không phải là loại yêu cầu mà nếu không nhất trí, CQĐT vẫn phải chấp hành như một số yêu cầu, quyết định khác nên hiệu lực bị hạn chế). Đối với việc khởi tố bị can, tại khoản 5 Điều 126 BLTTHS quy định VKS chỉ thực hiện thẩm quyền khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố. Quy định nói trên có hạn chế là trong khi vụ án đang được tiến hành điều tra, nếu yêu cầu khởi tố bị can của VKS chưa được thực hiện thì phải chờ đến khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra, VKS mới có thể ra quyết định khởi tố bị can và yêu cầu điều tra (phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung).

Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định cụ thể, đầy đủ về mối quan hệ tố tụng giữa VKS với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và điều tra vụ án hình sự như đối với CQĐT.

Công ty Luật TNHH Vinh Quang Việt Nam

ĐC: Tầng 4, Toà 91B phố Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội.
Hotline: 0966 69 62 69 - Email : luatvinhquang@gmail.com
Nơi uy tín hàng đầu về các dịch vụ liên quan đến sổ đỏ - nhà đất tại Hà Nội